Kính chào quý khách! Quý khách đang tham quan Đình Tây Mỗ, một di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội. Đình Tây Mỗ cùng Đền Am được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 490/QĐ ngày 22 tháng 4 năm 1992.
Đình thờ Long Hải Đại Vương, vị thần gắn bó với đời sống tín ngưỡng và tinh thần của cộng đồng làng Tây Mỗ. Sau đây, xin mời quý khách lần lượt khám phá các hạng mục kiến trúc, tìm hiểu lịch sử, nghệ thuật và những câu chuyện được lưu truyền quanh ngôi đình cổ.
Theo lời kể của các bậc cao niên được ghi trong hồ sơ di tích, đình có từ lâu đời và từng được di chuyển qua một số địa điểm trước khi dựng vị trí như hiện nay. Căn cứ đạo sắc phong năm Cảnh Hưng thứ 28, tức năm 1767, cùng đôi đòn kiệu mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII, hồ sơ di tích nhận định Đình có thể đã được xây dựng từ khoảng thế kỷ XVII.
Trên thượng lương tòa Đại bái còn dòng niên đại Thành Thái thứ 3, ghi ngày 24 tháng 11 năm Tân Mão, tức năm 1891. Dấu tích này phù hợp với phong cách kiến trúc, điêu khắc hiện còn và là căn cứ để nhận định Đình được dựng tại vị trí hiện nay vào cuối thế kỷ XIX. Trải qua nhiều lần sửa chữa, Đình vẫn bảo lưu nhiều cấu kiện kiến trúc và di vật có giá trị.
Năm 2010, Đình Tây Mỗ cùng Đền Am được tu bổ, tôn tạo và gắn biển công trình chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Việc tu bổ góp phần bảo vệ công trình, cải thiện cảnh quan và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa của Nhân dân địa phương.
Đình thờ Long Hải Đại Vương; bài vị ghi “Quốc Vương Thiên Tử Thần Thủy Hải Long Vương”. Bên cạnh đó, đình còn thờ Ả Lã Nàng Đê, nhân vật được truyền tụng là một nữ tướng của Hai Bà Trưng. Việc thờ tự cùng các hoạt động hội làng cho thấy đình không chỉ là nơi thực hành tín ngưỡng mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Tây Mỗ trước đây.
Nghi môn là điểm mở đầu của tuyến tham quan Đình Tây Mỗ. Theo hồ sơ di tích, cổng đình được xây theo hình thức tam quan bằng gạch, mái cong; hai bên trụ biểu có tượng nghê chầu. Hình ảnh cổng đình vươn lên giữa bóng tre làng tạo nên vẻ uy nghiêm, cổ kính của một công trình tín ngưỡng truyền thống.
Các mảng trang trí tại nghi môn sử dụng những đề tài quen thuộc như rồng chầu mặt nguyệt, tứ linh, trúc hóa rồng, bình án và hoa văn chữ triện. Nghệ thuật chạm nổi, ghép mảnh sứ cùng các lớp trang trí góp phần tạo nên diện mạo trang trọng của lối vào đình.
Bước qua nghi môn là khoảng sân rộng, tạo không gian chuyển tiếp từ cổng vào khu kiến trúc chính. Phía trước đình còn có giếng cổ, góp phần tạo nên dấu ấn cảnh quan của di tích. Trong những ngày lễ hội, sân đình là nơi tập hợp dân làng, chuẩn bị nghi lễ và tổ chức các hoạt động cộng đồng.
Tòa Đại bái gồm ba gian, là không gian chính ở phía trước của đình. Công trình có bốn hàng chân cột và bốn bộ vì; vì chính bằng gỗ được tạo theo kiểu “thượng chồng rường, giá chiêng – trung cốn – hạ kẻ”. Các cột theo dáng “thượng thu – hạ thách”, đặt trên chân tảng đá tròn. Kiểu chân tảng và kết cấu hiện còn mang đặc trưng của kiến trúc thời Nguyễn, khoảng cuối thế kỷ XIX.
Trên kiến trúc gỗ, nghệ nhân thể hiện nhiều đề tài trang trí như tứ linh, tứ quý, rồng cuốn thủy, cá vượt, chim phượng, hoa văn thực vật và chữ triện. Đặc biệt, các đầu dư được chạm hình đầu rồng; cốn nách có những mảng chạm tứ linh với bố cục gọn gàng, cân đối. Những chi tiết này làm giảm cảm giác nặng của kết cấu gỗ và tạo nên giá trị nghệ thuật nổi bật cho tòa Đại bái. Trên bờ nóc mái đình còn nổi bật các mảng đắp trang trí rồng chầu, mây cuốn và hình tròn ở vị trí trung tâm, góp phần tạo điểm nhấn cho diện mạo kiến trúc của tòa Đại bái.
Trong truyền thống, Đại bái là nơi hội họp và thực hành các nghi lễ chung của làng. Cách bố trí chỗ ngồi trước đây phản ánh thứ bậc, vai trò của các chức sắc, kỳ mục và các giáp trong cơ cấu làng xã.
Giữa khu Đại bái và Trung đình có một bức bình phong xây gạch, tạo thành lớp ngăn ước lệ giữa hai không gian. Bình phong có dáng thấp, chạy ngang phía trước Trung đình, hai đầu uốn cong mềm mại và được phân chia bởi các trụ xây. Sự hiện diện của bình phong góp phần phân định không gian, đồng thời tạo chiều sâu và sự kín đáo, trang nghiêm cho khu vực phía trong.
Trung đường là không gian chuyển tiếp từ Đại bái vào khu vực thờ tự phía trong. Tại đây, nhịp tham quan chậm lại, đưa du khách từ không gian sinh hoạt, hành lễ chung đến nơi đặt các ban thờ và Hậu cung.
Hậu cung mở từ phía sau gian giữa tòa Đại bái, gồm ba gian, tạo với Đại bái thành mặt bằng hình chuôi vồ. Đây là nơi đặt khám thờ Thành hoàng và là không gian linh thiêng nhất của đình.
Kết cấu Hậu cung sử dụng các bộ vì kiểu chồng rường, giá chiêng và thượng rường – hạ kẻ. Một số mảng cốn được trang trí tứ linh, rồng cuốn thủy. Khi tham quan khu vực này, quý khách vui lòng giữ yên lặng, không tự ý chạm vào đồ thờ, hiện vật hoặc đi vào khu vực hạn chế.
Ban thờ các quan thuộc hệ thống thờ tự trong đình, góp phần hoàn chỉnh không gian nghi vệ bên cạnh khám thờ Thành hoàng. Nội dung giới thiệu tại điểm này được thực hiện theo tên gọi và cách bài trí hiện nay. Quý khách vui lòng quan sát theo hướng dẫn và tôn trọng các đồ thờ, lễ vật tại ban.
Ban thờ Ả Lã Nàng Đê nằm tại gian cuối của hành lang bên trái. Theo truyền tụng tại địa phương được ghi lại trong hồ sơ di tích, Ả Lã Nàng Đê là một nữ tướng của Hai Bà Trưng. Việc phụng thờ bà bên cạnh Long Hải Đại Vương cho thấy đình Tây Mỗ lưu giữ nhiều lớp ký ức lịch sử và tín ngưỡng của cộng đồng.
Nhà khách là không gian phục vụ việc đón tiếp, chuẩn bị và hỗ trợ các hoạt động chung tại di tích. Trong những ngày lễ, hội hoặc khi có đoàn tham quan, đây là nơi trao đổi, hướng dẫn và tổ chức các công việc cần thiết.
Giếng cổ nằm trong khuôn viên phía trước đình, có miệng giếng hình tròn, thành xây thấp; khu vực xung quanh được lát đá, tạo thành một khoảng nền riêng. Hiện miệng giếng được che bằng khung bảo vệ để bảo đảm an toàn và gìn giữ di tích.
Theo câu chuyện phong thủy được lưu truyền tại địa phương, khu đất đặt đình được hình dung như một con cá đang hóa rồng nằm nghiêng, còn giếng đình được xem là vị trí mắt cá. Cách lý giải dân gian này gắn cảnh quan nguồn nước với tín ngưỡng thờ Long Hải Đại Vương, đồng thời cho thấy cách người xưa cảm nhận và diễn giải thế đất của ngôi đình.
Đình Tây Mỗ nằm trong khu dân cư truyền thống của phường Tây Mỗ, quay hướng Tây Nam. Khuôn viên đình khá rộng, mặt bằng gần vuông. Theo hồ sơ di tích, tổng thể kiến trúc gồm tòa Đại bái ba gian, Hậu cung ba gian mở từ phía sau gian giữa Đại bái và hai dãy hành lang chạy song song với phần chuôi vồ. Cách tổ chức này tạo nên một không gian thờ tự gọn gàng, có sự phân định giữa nơi hội họp, hành lễ và khu vực thờ chính.
Giá trị nổi bật của Đình Tây Mỗ tập trung ở hệ kết cấu gỗ và nghệ thuật trang trí thế kỷ XIX. Các đề tài tứ linh, tứ quý, rồng chầu mặt nguyệt, rồng cuốn thủy, cá vượt, chim phượng, trúc hóa rồng và hoa văn chữ triện được thể hiện bằng nhiều kỹ thuật chạm. Hình khối vừa phải, bố cục cân đối và đường nét mềm mại cho thấy kỹ năng của những nghệ nhân xưa.
Bên cạnh kiến trúc, đình còn lưu giữ nhiều hiện vật bằng gỗ, giấy, vải, gốm sứ và kim loại. Tiêu biểu có đại tự, cuốn thư, câu đối, hương án, sập thờ, long ngai, bài vị, kiệu, chuông đồng, đồ tế khí và mười hai đạo sắc phong từ thời Lê Cảnh Hưng đến thời Nguyễn Khải Định. Đôi đòn kiệu mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII và nhiều hiện vật chạm khắc, sơn son thếp vàng thế kỷ XIX là những tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật và nghề thủ công truyền thống.
Theo quan niệm được các bậc cao niên lưu truyền, đình nằm trên một gò đất có hình thế cá hóa rồng; giếng tròn phía trước được xem như mắt cá. Trong phạm vi rộng hơn, vùng đất Tây Mỗ còn được kể là nơi hội tụ các hình thế “Long, Ly, Quy, Phượng”. Những câu chuyện này phản ánh quan niệm dân gian của người xưa khi lựa chọn đất dựng đình và lý giải cảnh quan làng, không phải kết luận khoa học về địa hình.
Đình Tây Mỗ thờ Long Hải Đại Vương, bài vị ghi “Quốc Vương Thiên Tử Thần Thủy Hải Long Vương”. Hệ thống mười hai đạo sắc phong còn lưu giữ, bắt đầu từ năm Cảnh Hưng thứ 28, tức năm 1767, và kéo dài đến năm Khải Định thứ 9, tức năm 1924, phản ánh quá trình phụng thờ lâu dài tại địa phương. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng cùng việc thờ Ả Lã Nàng Đê đã góp phần hình thành đời sống tinh thần và những sinh hoạt cộng đồng gắn với ngôi đình.
Lễ hội truyền thống Đình Tây Mỗ được tổ chức trong ba ngày, từ mùng 7 đến mùng 9 tháng Giêng âm lịch; ngày mùng 8 là chính hội. Lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ Thành hoàng, thể hiện mong ước mưa thuận gió hòa, đời sống bình an, con cháu khỏe mạnh, học hành tiến bộ và gia đình hạnh phúc.
Rước xôi là nét đặc sắc của lễ hội. Theo hương ước và tư liệu địa phương, trước đây các giáp chuẩn bị cỗ xôi dâng Thành hoàng; ngày nay việc đăng cai được luân phiên trong cộng đồng. Gia đình được chọn làm nơi chuẩn bị xôi phải là gia đình nền nếp, hòa thuận. Gạo nếp được lựa chọn kỹ, làm sạch để đồ ba cỗ xôi dâng lễ. Quá trình chuẩn bị không chỉ đòi hỏi sự cẩn trọng mà còn thể hiện lòng thành kính của cộng đồng đối với Thành hoàng.
Ngày mùng 7 tháng Giêng có đoàn rước lễ oản từ đình đến chùa Liên Trì rồi trở về đình. Đoàn rước gồm các thành phần như đội múa sư tử, cờ ngũ hành, bát âm, trống, kiệu, Ban Văn hội, đội dâng hương và Nhân dân.
Ngày mùng 8 tháng Giêng diễn ra nghi thức Rước xôi. Ba cỗ xôi được rước từ nhà đăng cai ra đình; đoàn rước đi quanh ao, qua các tuyến đường truyền thống rồi tiến vào gian giữa đình để dâng Thành hoàng. Trong đoàn có cờ ngũ hành, lộ bộ, chấp kích, trống, nhạc, kiệu Văn, kiệu Cam, đội dâng hương, các đoàn thể, Nhân dân và du khách. Theo quy ước địa phương, sau năm năm tổ chức rước kiệu rồng một lần.
Bên cạnh phần lễ trang nghiêm, phần hội có các hoạt động văn nghệ, thể thao và trò chơi dân gian như kéo co, bơi thuyền bắt vịt, chạy hóa trang cùng nhiều hình thức giao lưu cộng đồng. Qua đó, lễ hội vừa duy trì nghi lễ truyền thống, vừa tạo không gian gặp gỡ, đoàn kết trong những ngày đầu xuân.
Đình lưu giữ mười hai đạo sắc phong, một bản thần tích, hệ thống đại tự, cuốn thư, câu đối, long ngai, bài vị, hương án, kiệu, chuông đồng và nhiều đồ tế khí. Trong đó, đôi đòn kiệu mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII; cỗ kiệu, hương án, các sập thờ, long ngai và nhiều đồ thờ sơn son thếp vàng mang dấu ấn nghệ thuật thế kỷ XIX. Đây là những di vật có giá trị đối với việc tìm hiểu lịch sử và nghệ thuật truyền thống của di tích.
Mười hai đạo sắc phong hiện còn có niên đại trải từ thời Lê Cảnh Hưng đến thời Nguyễn Khải Định, gồm các năm: Cảnh Hưng 28 (1767), Cảnh Hưng 44 (1783), Chiêu Thống 1 (1786), Quang Trung 4 (1791), Cảnh Thịnh 1 (1793), Minh Mệnh 2 (1821), hai đạo sắc năm Thiệu Trị 4 (1844), Tự Đức 3 (1850), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909) và Khải Định 9 (1924). Hệ thống sắc phong phản ánh quá trình thờ phụng Thành hoàng được duy trì qua nhiều triều đại.
Đôi đòn kiệu mang phong cách chạm khắc thế kỷ XVII là một trong những hiện vật sớm của đình. Bên cạnh đó còn có cỗ kiệu rồng, hương án, sập thờ, long ngai, bài vị, đại tự, cuốn thư, câu đối, chuông đồng, đồ gốm sứ và nhiều đồ tế khí. Các hiện vật được chế tác bằng nhiều chất liệu, phản ánh kỹ thuật chạm khắc, sơn son thếp vàng và nghề thủ công truyền thống qua các thời kỳ.
Thưa quý khách, Đình Tây Mỗ là nơi hội tụ những giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và tín ngưỡng của cộng đồng địa phương. Từ nghi môn, sân đình, Đại bái, bức bình phong, Trung đường, Hậu cung đến giếng cổ và các không gian phụ trợ, mỗi hạng mục đều góp phần kể lại câu chuyện về một ngôi làng cổ và đời sống văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Chúng tôi mong rằng, qua hành trình tham quan, quý khách sẽ hiểu thêm, trân trọng hơn và cùng chung tay bảo vệ những giá trị của Đình Tây Mỗ.