Tham quan thực tế ảo vr360 Đền Am Tây Mỗ, Hà Nội

Sự Linh Thiêng Của Đền Am Tây Mỗ
Lễ hội Đền Am diễn ra vào ngày 27 tháng 3 âm lịch sắp đến, đây là ngày sinh của Phúc Vương Lê Tranh. Dân làng Tây Mỗ lại nô nức chảy hội, các đoàn lễ của các ngõ xóm, dòng họ, đồng niên, gia đình, cá nhân,… mang lễ vật ra đền lễ tạ, cầu mong cho gặp nhiều sự may mắn, đỗ đạt, thuận lợi… Các em bé, thanh thiếu niên tham gia các trò chơi, hoạt động văn hóa xung quanh đền. Tất cả tạo lên sự gắn kết từ tín ngưỡng của nghi lễ, đến vui vẻ, hồ hởi của hội hè. Sự linh thiêng của ngôi đền không chỉ đến từ niềm tin tâm linh thuần túy mà còn được củng cố bởi sự kết hợp hoàn hảo giữa địa linh của huyệt đạo mạch đất nơi đây và tín ngưỡng thờ phụng nhân thần hoàng tử Phúc Vương Lê Tranh.
Theo quan niệm địa lý phong thủy phương Đông, một ngôi đền linh thiêng thường được đặt tại điểm tụ của sinh khí. Mà Đền Am nằm trên một gò đất cao, là sự tiếp nối của mạch đất từ Đình Tây Mỗ. Điều này có thể dễ đang quan sát thấy, khi đoạn đường làng đi đến cổng đền sẽ có một cái dốc cao sau đó thoải dần đến cổng trường mẫu giáo, đó chính là con đường đã chạy vắt trên lưng gò.
Gò đất nơi dựng đền theo các cụ kể thì được ví như một con voi với cái vòi thẳng với cổng làng từ trán voi dốc xuống. Trong phong thủy, thế đất hình voi tượng trưng cho sự nền tảng, bền bỉ, chắc chắn. Vị trí đặt hậu cung của đền chính là mắt hoặc tâm của gò đất, gọi là huyệt đạo. Đây là nơi các dòng năng lượng từ lòng đất hội tụ. Việc xây dựng đền tại đây giúp trấn giữ long mạch, biến năng lượng tự nhiên thành sức mạnh tâm linh để bảo hộ cho dân làng.
Bên cạnh gò đất là vai trò sơn, yếu tố thủy tại Đền Am cũng rất ăn khớp và cực kỳ quan trọng, hoàn thiện địa thế sơn hoàn thủy bao. Theo mô típ quy hoạch kiến trúc thì trước đền thường có ao nước hoặc hồ bán nguyệt. Trong trường hợp Đền Am, ao nước có thế Kim Ngư Thủy nước cá vàng. Về mặt năng lượng, ao nước không chỉ là sơn thủy hữu tình, nó còn giúp lọc sạch bức xạ trước khi vào nơi thánh khiết và tụ thủy, tụ tài. Gò đất cao mang tính âm, ao nước mang tính dương. Sự hiện diện của ao nước giúp cân bằng năng lượng, giữ cho sinh khí không bị tán đi bởi gió mà đọng lại nhờ nước. Đây chính là điểm cốt lõi tạo nên cảm giác thanh tịnh, nhẹ nhàng nhưng uy nghiêm ngay khi bước chân vào khuôn viên đền.
Nếu địa thế sơn thủy là nền tảng thì nhân vật được thờ phụng chính là linh hồn của ngôi đền. Việc thờ phụng Hoàng tử Phúc Vương Lê Tranh, con trai vua Lê Thánh Tông và Tài nhân họ Nguyễn người làng Tây Mỗ tại đây là một sự sắp đặt mang tính tâm linh sâu sắc của các cụ có học thuật uyên bác trong triều đình. Một vị hoàng tử mang dòng máu nhà vua sẽ có công đức, phúc đức dầy đón nhận dòng sinh khí từ huyệt đạo. Chỉ có những nơi có long mạch mạnh, địa thế linh thiêng như Đền Am mới đủ sức mang tải được anh linh của một bậc vương giả.
Khi đưa Phúc Vương vào thờ tự tại điểm huyệt đạo, anh linh của ngài sẽ được nuôi dưỡng bởi sinh khí của đất trời nơi linh địa. Ngược lại, uy danh và đức độ của ngài khi sinh thời sẽ trấn giữ và làm rạng rỡ thêm cho vùng đất này. Với thế đất voi, tụ thủy cá vàng và thân thế sự nghiệp văn chương khi còn đương thời, nơi đây chắc chắn sẽ là một nguồn khí lực bền vững cho người dân làng.
Trong địa lý phong thủy, mạch đất không chỉ dừng lại ở một điểm mà thường có các chi nhánh tỏa ra. Nếu Đền Am là nơi tọa lạc trên một huyệt đạo từ phần thân của mạch, thì Mả Bia chính là điểm kết huyệt cuối của một chi mạch chạy từ đền ra, nơi khí được giữ lại trước khi chạm tới nước. Việc an táng Phúc Vương tại đây cho thấy sự tính toán kỹ lưỡng để anh linh của ngài trực tiếp gối đầu lên huyệt đạo của long mạch, thụ hưởng trọn vẹn tinh túy của vùng đất Tây Mỗ. ​Cái tên Mả Bia cũng tự thân khẳng định vị thế khác biệt. Một ngôi mộ có bia đá uy nghiêm từ xưa giữa vùng đất hoang sơ thường chỉ dành cho bậc vương tôn công tử, là cột mốc đánh dấu nơi long xà ẩm thủy, rồng rắn uống nước.
​Vị trí Mả Bia nằm gần bờ Khe Tùng Khê mang ý nghĩa thế cục cơ bản trong thuật địa lý phong thủy. Sách địa lý cổ có câu “Khí gặp gió thì tán, gặp nước thì dừng”. Khe Tùng Khê đóng vai trò là đường biên, ngăn không cho linh khí từ chi mạch chạy thoát ra ngoài. Khi mạch đất chạy từ Đền Am ra đến gần bờ khe thì gặp dòng nước chặn lại, khí sẽ tụ lại đậm đặc tại đây.
​Hệ thống Đền Am – Mả Bia nằm trên hai huyệt đạo. ​Sự linh thiêng của khu di tích là một hệ thống phong thủy liên hoàn. Với Đền Am trên một cấu trúc tâm linh hoàn chỉnh phù trợ cho dân làng. Mã Bia là một huyệt đạo âm phần bảo địa giúp phát tích cho con cháu.
Trích: Nội dung tấm biển gỗ tại Đền
Từng nghe, nhà Chu lập nước tất đôn phong hoá theo bài Lân chỉ, nhà Hán mở nền ắt làm mạnh cái thế đan xen như răng chó. Đại khái là gốc rễ có sâu thì cành lá mới tốt tươi, nguồn cội có xa thì dòng mạch mới chảy dài, nguyên nhân vốn xưa đã có từ lâu.
Kính nghĩ
Hoàng triều ta đôn đốc phúc lành xa trước của nhà Chu, theo vết cũ lập tông chi làm phiên phụ giúp của nhà Hán, vận nước được dài con cháu hưng vượng mệnh trời ban mãi. Nay Thánh thượng hoàng đế lấy việc đề cao đức hiếu trị thiên hạ, giỏi kế nối nghiệp thiện của đời trước, ngôi mệnh to lớn, mở mang hoằng dương tạo dựng lòng nhân yêu khắp, ban phúc ấm cho tông thất hoàng gia. Lộ điềm dây dưa mọc lan dài, cành hoa lệ sáng rạng như trong Kinh Thi ca tụng, còn có thể khen thêm làm sao được nữa.
Kính cẩn án rằng:
Phúc Vương nước Hoàng Việt, tên huý là Tranh, là con trai thứ 6 của Thánh Tông Thuần Hoàng đế, là em trai của Thánh Thượng Hoàng đế. Mẹ là Tài nhân Nguyễn Thị Thái, con gái của quan Trung đại phu Thượng bảo tự khanh, quyền Thị lang bộ Hộ Nguyễn Đình Hi.
Vương sinh vào khắc Nhâm Thìn ngày 27 tháng 3 năm Đinh Hợi niên hiệu Quang Thuận năm thứ 8 (1467), vẻ đẹp huy hoàng như ngọc quỳnh, sắc nhuận tươi như ánh sáng dòng ngân, vẻ cao quý như thế có thể thấy được.
Ngày Tân Hợi mùng 10 tháng 7 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471) đặc khiển Tuyên lực công thần, đặc tiến Phiêu kỵ đại tướng quân Đại tư mã Đông quân Đô đốc phủ hữu đô đốc chưởng phủ sự Thượng trụ quốc Lê Hy Cát, vâng mang kim sách bảo chương tới phong làm Phúc Vương, được đội mũ miện có ngọc khuê, ơn sâu tắm gội, thực là thấy được vẻ vinh dự. Ban cho lập phủ riêng ở phường Đông Tác huyện Thọ Xương trong kinh thành.
Ngày Kỷ Tỵ mùng 10 tháng 12 năm Bính Ngọ niên hiệu Hồng Đức thứ 17 (1486) sính lễ lấy con gái quan Thượng thư bộ Lễ Trịnh Văn Lượng là Thục Tuân làm phi. Mới được 9 kì (9 năm), Trịnh phi mất sớm.
Ngày Đinh Tỵ 27 tháng 12 năm Ất Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 26 (1495), lại lấy con gái quan Triều liệt đại phu Mậu Ân hầu Lưu Cảnh Đức là Châu Linh làm phi. Duyên cầm sắt hòa hợp lại tấu lên, điềm lành hùng bi đã tỏ, mộng triệu xà hủy cũng hiệp theo. Sinh được một con trai, hãy còn bé, được ba con gái, lớn là Dự tuổi vừa đến cập kê, con thứ là Dưỡng mới 6 tuổi, con gái út tuổi hãy còn nhỏ, cảnh trúc biếc dâu xanh đùa chơi vui vẻ chốn hộ đình. Chương bạc ấn xanh, sự vẻ vang đẹp đẽ, cũng tính được có thể làm rạng rỡ cho đời trước, trấn hưng cho đời sau.
Than ôi! Điềm phúc thiện hư ứng dựa dẫm vào nhau không thường. Phúc khánh cứ tích vun vào nhà khá giả mà lo buồn cũng theo vào tận gối. Ngày Canh Ngọ 13 tháng 6 năm Giáp Ngọ niên hiệu Cảnh Thống thứ 3 (1500), Vương bị mắc cảm.
Ngày Quý Mão, tức ngày 21 tháng ấy, Hoàng đế đặc khiến quan Phụng ngự thừa chế cung môn Phạm Thế Tứ cùng với quan Biện nghiệm ở Thái y viện Nguyễn Sĩ đến thăm bệnh.
Ngày Nhâm Thân 13 tháng 7 lại sai quan khám chẩn bệnh ở Tế Sinh đường Nguyễn Duy Hàn đến liệu trị.
Ngày Bính Tuất mùng 4 tháng 8, bệnh lại gấp, vua lại sai quan Phụng ngự thừa chế trong cung là Lê Biểu và quan Đại lại ở Thái y viện là Lý Thủ Nhượng đến xem bệnh, mới biết là không thể nào được nữa, mệnh lớn đã chuyển mất rồi. Lúc lâm chung, vương mệnh không được động loạn ầm ỹ, ngồi ngay ngắn gọi hết liêu thuộc trong phủ, dặn dò việc tang nên tiết kiệm, không nên làm đàn chay theo nhà Phật mà nhất nhất tuân theo lễ xưa.
Giờ Mùi ngày Mậu Tuất mùng 6 tháng ấy Vương mất tại chính tẩm trong phủ, xuân thu mới được 34 tuổi.
Ô hô! Tuổi còn thanh xuân mà vội sớm ra đi, hạt móc sầu ca, vườn xuân uyển gió động cành hoa, ánh trăng soi giọt lệ; sương sầu ướt đẫm nhánh hoa lê, không thể nào không dấy động lòng buồn than khi ngắm dòng nước xuôi mênh mang.
Thánh thượng hoàng đế cho nghỉ thiết triều ba hôm. Phàm những lễ tiệc yến ẩm cung chúc cũng đều bãi miễn cả, sắc cho các vương, công chúa đều mặc tang phục theo thứ bậc.
Ngày Canh Dần mùng 8 tháng ấy, đặc chỉ sai Hữu điểm tướng tác giám thừa là Đào Thế Cảnh đôn đốc việc công thợ, ban tiền hai mươi tám vạn hai nghìn đồng để vỗ về an ủi.
Ngày Quý Sửu mùng 2 tháng 9, đặc khiến Tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Bắc quân Đô đốc phủ tước Hoàn Lâm bá Trịnh Quý Cầu đến dụ tế.
Ngày Kỷ Mùi mùng 8 tháng ấy, chuyển linh cữu, thân mệnh cho Phụ quốc thượng tướng quân Nam quân Đô đốc phủ, phụ mã Đô úy tước Chiêu Hoài bá là Lê Đạt Chiêu đến dụ tế.
Việc tứ tang hậu trọng, điển lễ văn tình đầy đủ như thế. Ngày 10 tháng ấy làm lễ phát dẫn đưa linh cữu ra ngoài, ngày 22 an táng tại Hạnh Hoa Khê xã Tây Mỗ huyện Từ Liêm, theo quê mẹ, ban tên thuỵ là Ý Khang. Vương thường những lúc nhàn đàm, tính tình ôn nhã đốc thực, kiệm ước, nói cười luôn theo lễ tắc, hiếu học, chăm đọc sách, giỏi về thơ phú, hiểu lẽ Kinh Dịch. Ngay từ lúc nhỏ, thường được hỗ tụng theo xa giá về Lam Kinh bái yết, từng được mệnh làm bài ứng chế. Thánh Tông Thuần hoàng đế đặc gia ban khen thưởng lụa Hạ bố của Cao Li, lại cho phép được vào nội điện để thị yến, ban cho thơ và mệnh làm bài họa lại.
Thánh Thượng hoàng đế mới lên, ban dụ khen thưởng lụa Tú Thái Lăng bố, dụ lấy việc đọc sách làm vui, ý coi trọng tỏ rõ như thế. Chiếu rằng người hiền ở Đông Bình, kẻ nhã ở Hà Gian may ra mới sánh bằng sự vẻ vang đó, đáng được hưởng phúc muôn năm. Chẳng ngờ gặp ách tật, phải về trời, thật đáng buồn.
Kính cẩn ghi bài minh rằng:
Đạo trị sâu thay,
Từ việc trong nhà.
Thói theo Lân chỉ,
Thế vững đan xen.
Vận đồ Đại Việt,
Hoằng khôi rõ ràng.
Phúc tộ cháu con,
Ơn lành dài mãi.
Lớn thay Thánh thượng,
Vun đắp di luân.
Trước lập nhân ái,
Đạo giữ hoà thân.
Vui thay Phúc vương,
Liệt hàng phiên vương.
Tính rất ôn lương,
Trong lòng hiếu kính.
Chăm chỉ đọc sách,
Rộng rãi trọng người.
Thân người hiền lương,
Bản tính vui thiện.
Đáng được muôn năm,
Mà đời tai ngược.
Thiên tâm khó dò,
Tuổi hơn ba mươi.
Gặp phải tật ách,
Thác tuổi còn xuân.
Đan dược khôn bình,
Đàn con mất hưởng.
Lệ gạt bi thương,
Buồn bã ca vãn.
Khách thuật thê lương,
Tinh phách yên ổn.
Huyền đường rộng rãi,
Thương xót ơn vua.
Thêm vun ân ốc,
Bia đá dựng lập.
Vạn cổ đất trời.
Ngày 1 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 14 (1939)
Hội Lạc Thiện của bản ấp thừa chép lại, và khắc biển.